Banner


Kiếm Lai

Chương 344: Sông Mai phong chính, võ miếu mượn đao, vượn trắng đeo kiếm




Một thiếu nữ vóc người nhỏ nhắn, khoác trên mình bộ y phục lộng lẫy tựa như cáo mệnh phu nhân, đột nhiên hiện thân bên bờ sông Mai, lững thững dạo bước.

Theo tu vi cảnh giới thăng tiến vượt bậc, Thủy thần nương nương sông Mai điều khiển khí vận hai bên bờ ngày càng thành thục. Chuyện này chẳng khác nào võ tướng khai cương thác thổ, vó ngựa đạp tới đâu, nơi đó chính là cương vực quốc gia.

Sông Mai vốn là một đại giang chảy từ đông sang tây, gần như vắt ngang hơn nửa lãnh thổ vương triều Đại Tuyền. Trước kia nàng chỉ dựa vào binh khí bản mệnh tự mình luyện hóa để miễn cưỡng duy trì uy thế, ngay cả khi đối đầu với một con thủy yêu chưa đạt tới Kim Đan cảnh cũng đã thấy vô cùng chật vật.

Nếu tùy tiện thăng cấp Bích Du phủ thành Bích Du cung, mà triều đình Đại Tuyền lại chẳng nỡ trích ra một phần quốc vận để tu sĩ Khâm Thiên giám mang tới trấn giữ miếu thờ, thì một khi tấm biển phủ đệ đổi thành chữ "Cung", bốn phương tám hướng tất sẽ nảy sinh lòng tham, dòm ngó không thôi. Chẳng biết chừng có ngày, hai tấm biển hiệu kia lại bị kẻ khác gỡ xuống làm củi đốt. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến vị Thủy thần nương nương này trước đây không muốn đáp ứng việc thăng cấp.

Nàng vốn tính hào sảng, nóng nảy, điều này không hề giả dối. Thế nhưng kẻ có thể trấn giữ sông Mai suốt mấy trăm năm, nắm chắc từng cơ duyên trong tay, dĩ nhiên chẳng phải hạng người ngu muội.

Nàng ngồi xổm xuống, vốc một ngụm nước sông Mai. Dưới ánh trăng thanh lãnh, làn nước trong lòng bàn tay sóng sánh, linh khí đã dồi dào hơn trước kia gấp bội.

Trước khi nàng vội vã tới dịch quán, thoạt đầu có vô số tinh hoa hương hỏa mà miếu Thủy thần không chứa xuể, toàn bộ đều cuồn cuộn đổ ngược vào trong miếu. Tinh hoa hương hỏa vốn mang sắc trắng bạc nay lại chuyển sang màu vàng nhạt, từng tia từng sợi trôi về phía pho tượng đất kim thân nơi chủ điện.

Kim thân, kim thân, đó tuyệt đối không phải là kỹ nghệ mạ vàng đánh bóng của thợ thủ công, mà chính là nền tảng Thần đạo của một vị sơn thủy thần linh, là một dạng hiển hóa của đại đạo. Những luồng hương hỏa vàng nhạt đặc quánh kia chậm rãi thấm sâu vào tượng thần, trong Thần đạo gọi đây là "Tô Kim".

Chỉ có hai trường hợp mới xuất hiện dị tượng như vậy. Một là tu sĩ Khâm Thiên giám tuân mệnh hoàng đế, phụng chỉ hành sự, dùng bút lông điểm kim lên thân tượng thần linh, nhưng phần lớn cũng chỉ là "điểm hóa" đôi chút mà thôi. Loại còn lại chính là Nho gia Thánh nhân "chỉ điểm giang sơn" cho kim thân, hơn nữa vị Nho thánh này ít nhất phải có địa vị ngang hàng với bảy mươi hai vị Sơn chủ thư viện.

Chẳng những miếu Thủy thần sông Mai bất ngờ đón nhận phúc duyên to lớn, mà ngay cả phủ Bích Du cũng được khí vận gia trì. Mây lành tụ hội, che phủ tựa lọng hoa, nơi đây gần như đã hóa thành một chốn động thiên phúc địa để tu hành.

Hiện tượng này chính là "Phong Chính", thực sự nhận được sự thừa nhận của chính thống thiên địa Hạo Nhiên.

Thủy thần nương nương dù tính tình có đạm bạc đến đâu, cũng hiểu rõ đại ân đại đức khiến nàng trở tay không kịp này chẳng hề kém cạnh ơn truyền thụ đạo pháp lần đầu của Trần tiểu phu tử.

Tại dịch quán, nàng nói đùa chuyện lấy thân báo đáp, kỳ thực là bởi tâm tư rối bời, chẳng biết phải đền đáp thế nào cho phải.

Mảnh ngọc giản kia vốn là trấn trạch chi bảo của phủ Bích Du. Thuở thượng cổ, sông Mai từng là dòng chính lưu của một trong ba đại thủy đạo dẫn ra biển lớn. Về sau thế sự xoay vần, trải qua bao biến thiên như dòng chảy đổi hướng, bồi lắng tắc nghẽn, quy mô của đại thủy đạo năm xưa cứ thế thu hẹp dần, cuối cùng chỉ còn lại một đoạn sông Mai này.

Tiền thân của phủ Bích Du vốn là phế tích của một tòa Long cung, còn ngọc giản chính là chí bảo nàng tìm thấy trong đống đổ nát ấy, vạn năm qua sắc ngọc vẫn không hề phai nhạt. Đó là tinh hoa của đại giang ngưng tụ thành thực chất, cũng là sự hiển hóa khí vận thủy đạo của một phương, được Lão Long vương năm xưa luyện hóa thành ngọc giản. Trong những năm tháng đằng đẵng khi Long cung còn hưng thịnh, hẳn đây là vật tùy thân mà Long vương vô cùng trân quý.

Nàng dặn dò Trần Bình An sau khi ghi nhớ tiên gia đạo quyết hãy lập tức tiêu hủy ngọc giản, thực chất là mang theo chút tâm tư trêu chọc. Bởi lẽ, trừ phi Trần Bình An là thần tiên Thượng Ngũ Cảnh, bằng không tuyệt đối chẳng có bản lĩnh hủy đi vật ấy.

Thế nhưng, một khi đã nắm giữ môn đạo quyết "nhất bộ đăng tiên" kia, nàng tin chắc chỉ cần Trần Bình An dụng tâm tu luyện, ắt sẽ có hy vọng luyện hóa ngọc giản thành vật bản mệnh của mình.

Nàng bước vào lòng sông Mai, lướt đi trên mặt nước tựa như thần nữ bước ra từ những trang tiểu thuyết. Điều đáng tiếc duy nhất là con thủy yêu kia hẳn đã cấu kết với một vị Sơn thần quanh đây, trốn lên bờ ẩn náu trong thâm sơn cùng cốc, chẳng thấy tăm hơi.

Thủy thần nương nương ngả mình ra sau, nằm ngang trên mặt nước sông Mai, mặc cho dòng nước cuốn trôi về phía hạ lưu. Đám thủy quỷ chết đuối trong lòng sông cũng lũ lượt bám theo vị Thủy thần nương nương này, dập dềnh trôi về hướng miếu Thủy thần.

Nàng chợt đưa tay che mặt, dáng vẻ thẹn thùng như chẳng còn mặt mũi nào nhìn ai, lẩm bẩm tự nhủ:

- Mấy lời xấu hổ như vậy, sao có thể thốt ra từ miệng một hoàng hoa khuê nữ cơ chứ?

May mà nàng nhanh chóng vực dậy tinh thần, ngồi bật dậy, hớn hở nói:

- Phải lập tức sai người đến thành Thận Cảnh mời thợ khéo về tạc lại tượng thần. Người nhờ lụa, thần nhờ vàng. Đường nét nơi lồng ngực tượng thần có thể nảy nở một chút, đôi chân cũng nên thanh mảnh, dài hơn.

Đám thủy quỷ lặn ngụp dưới đáy sông đã sớm khai mở linh trí, phen này đúng là được mở mang tầm mắt. Không ngờ trên đời lại có một vị Thủy thần nương nương thú vị đến nhường này.

Trên hành trình xuôi ngược phương Bắc, đoàn người Diêu gia đã gặp phải không ít chuyện dở khóc dở cười.

Có vị hào kiệt giang hồ chút ít danh tiếng, tay cầm thanh Bát Bảo Linh Lung Thương đúc từ tinh sắt (mũi thương khắc hình bảo tháp linh lung), ngưỡng mộ danh tiếng mà tìm đến, nói là muốn lĩnh giáo "Diêu gia thương" vốn uy chấn biên thùy.

Kẻ này hô hào bằng hữu, mười mấy người cưỡi ngựa hò hét xông tới, dàn hàng ngang chặn giữa đại lộ. Hắn ngồi trên lưng ngựa, múa một đường thương hoa mỹ mắt. Cũng chẳng thể nói đây là hạng mèo khen mèo dài đuôi, dù sao cũng là võ phu hạng hai hạng ba, có mười mấy năm khổ luyện mài giũa. Có điều, võ lâm đồng đạo so tài cao thấp đương nhiên không thể đặt chung bàn cân với thiết thương nhà họ Diêu, bởi lẽ nơi sa trường, sinh tử chỉ phân định trong chớp mắt.

Khi ấy Diêu Trấn đang ngồi trong xe ngựa lật xem binh thư, chỉ thấy buồn cười, chẳng buồn chấp nhặt với đám hảo hán giang hồ đang khao khát thành danh kia. Diêu Cận Chi hạ lệnh một tiếng, kỵ binh Diêu gia lẳng lặng rút khinh nỏ, dọa cho đám người nọ hồn xiêu phách lạc, vội vàng dạt ra khỏi quan đạo. Đợi đến khi đoàn người Diêu gia đi xa, bọn chúng mới lầm bầm oán hận, mắng nhiếc kỵ binh Diêu gia chỉ là hạng gối thêu hoa, hữu danh vô thực, đến cả so tài thương pháp cũng không dám.

Kết quả ngay trong ngày hôm đó, đám người này đã bị quan phủ châu thành phát lệnh truy nã, cả hội huynh đệ đều phải vào ngục ăn cơm tù.

Về sau lại có một dã tu thuộc Hạ ngũ cảnh, tuổi đời còn trẻ, chừng hơn hai mươi, muốn xin làm cung phụng trong quân ngũ Diêu gia. Hắn cũng không dám lỗ mãng, sau khi tự thuật thân thế bối cảnh, lại khoe khoang đôi chút về thần thông pháp thuật của mình, rồi ngồi bên ngoài dịch quán chờ đợi, gặm bánh khô, uống rượu nhạt. Diêu Trấn sai người mang ra một trăm lượng bạc tặng cho, vị dã tu nọ đỏ mặt tía tai, nhưng cuối cùng vẫn nhận lấy bạc rồi mới rời đi.

Khoảng cách tới thành Thận Cảnh càng lúc càng gần, tin tức Diêu Trấn sắp sửa nhậm chức Binh bộ Thượng thư cũng theo đó mà lan truyền khắp chốn triều dã. Giữa đường, lại có một vị tu sĩ Binh gia chí lớn không thành, đang lúc tráng niên khí thịnh, thân hình vạm vỡ, đứng ra chặn lối. Hắn dõng dạc tuyên bố, chỉ cần người nhà họ Diêu có ai thắng được hắn, hắn sẽ lập tức cuốn xéo rời đi. Kết quả, Thiệu Uyên Nhiên chỉ vừa thi triển chút thủ đoạn, kẻ kia đã biết khó mà lui, lủi thủi biến mất.

Duy chỉ có hai chuyện kỳ quái khiến đoàn người Diêu gia thực sự hiếu kỳ, ấy là "sơn thần lội nước" và "thủy thần leo núi".

Có điều, phẩm cấp của hai vị thần linh sông núi này kém xa Thủy thần sông Mai, chỉ là những thần linh địa phương thuộc tầng lớp dưới cùng. Vị sơn thần kia trấn giữ cương vực trăm dặm, còn vị thủy thần nọ là một Hà bá phụ trách hai trăm dặm nước sông. Ranh giới núi sông liền kề, quan hệ giữa đôi bên vốn chẳng mấy thuận hòa, thỉnh thoảng lại nảy sinh xung đột.

Trước đây, những hiềm khích ấy chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, đôi bên đứng nơi ranh giới núi sông mà mắng nhiếc lẫn nhau. Thế nhưng gần đây, có một vị khách hành hương đã thay đổi nơi cúng bái, chuyển từ miếu sơn thần sang miếu thủy thần. Chuyện này trực tiếp ảnh hưởng đến khoản tiền hương hỏa mười vạn lượng bạc trắng mỗi năm sẽ chảy vào túi ai. Sơn thần bèn sai phái một vị Thổ địa công dưới trướng âm thầm đi khuyên nhủ vị khách kia hồi tâm chuyển ý. Chẳng ngờ hành tung lại bị Hà bá bắt quả tang, đánh cho vị Thổ địa công nọ mặt mày lấm lem bụi đất.

Sơn thần dưới cơn lôi đình đã trực tiếp vượt qua ranh giới, dấn thân xuống nước. Lão vung hai cây rìu bản to, đánh cho mười mấy dặm nước sông cuộn sóng ngất trời, khiến dân chúng quanh vùng kinh hãi không thôi. Thủy thần nào chịu để mất mặt như vậy, lập tức điều khiển nước sông chảy ngược lên cao, lao thẳng tới miếu sơn thần mà công kích.

Khi ấy, đoàn người Diêu gia vừa vặn đi qua bờ sông. Chứng kiến cảnh tượng hiếm thấy này, hai vị cung phụng cùng các tu sĩ trong quân của Diêu gia liền hộ tống Diêu Trấn và ba người con cháu họ Diêu tiến lại gần xem náo nhiệt.

Trần Bình An cũng có mặt trong nhóm đó, bên cạnh chỉ có Bùi Tiền và Chu Liễm tháp tùng.

Thế là bọn họ được tận mắt chứng kiến cảnh tượng Hà bá lớn tiếng quát tháo trước miếu sơn thần.

Đôi bên giao tranh kịch liệt, sơn thần nhờ chiếm được địa lợi mà đánh cho Hà bá phải tháo chạy về nước. Nhưng Hà bá lại không cam lòng, lão điều khiển dòng nước đục ngầu lao thẳng lên miếu sơn thần, càng đánh càng hăng.

Hai bên kẻ tới người lui, thi triển đủ loại thần thông pháp thuật. Một ngọn núi vốn dĩ thanh tú xinh đẹp nay bị lũ lụt nhấn chìm, vô số cây cổ thụ chọc trời gãy đổ ngổn ngang.

Phía ngoài chiến trường, một bên là thổ địa công cùng sơn tinh quỷ mị nơi núi rừng, một bên là binh tôm tướng cá cùng thủy tộc nô bộc bên bờ sông, đồng loạt phất cờ hò reo, gào thét khản cả cổ, trông còn mệt nhọc hơn cả việc đích thân ra trận chém giết.

Chẳng những thế, hai bên còn muốn tranh tài cao thấp. Phe dưới sông dựng một chiếc trống lớn da đỏ bên bờ, đánh trống trợ uy cho hà bá lão gia nhà mình, tiếng trống rền vang như sấm dậy. Phe trên núi cũng chẳng chịu kém cạnh, vội vàng lôi ra một lá đại kỳ cao tới mấy trượng, ra sức vung mạnh, tiếng gió thổi vào mặt cờ phần phật.

Thiệu Uyên Nhiên đứng bên cạnh Diêu Cận Chi, giải thích cho nàng nghe về nội tình của các vị sơn thủy thần linh, lời lẽ vô cùng dí dỏm. Thiếu nữ Diêu Lĩnh Chi ở bên cạnh nghe đến hứng thú bừng bừng, chỉ là không rõ chị gái Diêu Cận Chi ẩn sau lớp nón che mặt đang có tâm tư gì.

Bùi Tiền thì đang mải mê nhặt nhạnh những con cá sông nhảy loạn xạ trên bờ, việc này so với tự mình buông cần câu cá thì nhẹ nhàng hơn nhiều.

Màn kịch huyên náo này lại bị cắt ngang bởi một vị Thành hoàng gia sắc mặt nhợt nhạt. Vị này ngự gió mà đến, lơ lửng giữa không trung, quở trách hai vị thần linh kia một trận xối xả.

Vị Thành hoàng gia này khoác trên mình quan phục đặc thù của Lễ bộ Đại Tuyền, hoa văn thêu trên bổ tử trước sau giống hệt quan phục dương gian. Chỉ là quan phục của Thành hoàng đều mang sắc đen, ngụ ý thay mặt quân chủ nhân gian tuần tra u minh, kiềm chế bách quỷ âm hồn đi lại đêm khuya.

So với những miếu thờ dâm từ xây dựng bừa bãi khắp thiên hạ, vốn thường bị triều đình cấm đoán rồi lại mọc lên như nấm sau mưa, Thành hoàng gia càng cần được triều đình sắc phong chính thống, hơn nữa gần như không bao giờ có chuyện “danh bất chính ngôn bất thuận”. Thành hoàng nhất định phải tọa trấn trong thành trì, lẽ dĩ nhiên dễ bị triều đình khống chế, đồng thời cũng trung thành với vương triều hơn hẳn.

Trần Bình An chứng kiến cảnh hỗn loạn giữa vùng sông núi này, tâm cảnh vẫn bình lặng như nước. So với những trải nghiệm tại trấn nhỏ Long Tuyền, cùng với những gì tai nghe mắt thấy qua hai chuyến du ngoạn, cảnh tượng trước mắt chẳng qua chỉ là một chút ồn ào nhỏ nhặt. Không hẳn là buồn cười, nhưng thật khó để tìm lại cảm giác chấn động như lần đầu tiên trèo lên núi Phi Vân ở quê nhà, phóng tầm mắt nhìn ra dòng sông lớn hùng vĩ.

Chu Liễm đứng chắp tay bên cạnh Trần Bình An. Trong số bốn người tùy tùng, người nhà họ Diêu có ấn tượng sâu sắc nhất với lão già này. Bởi lẽ so với ba người còn lại, lão già lưng còng lom khom này mới thực sự giống một kẻ hầu cận đúng nghĩa.

Đám người kia sớm đã nghe danh về biểu hiện của bốn người trong trận huyết chiến tại khách điếm, biết được thiếu nữ đeo kiếm tuyệt sắc kia là một vị kiếm sư, còn Lư tiên sinh phong thái hiên ngang là một vị tông sư dùng đao. Ngụy Tiện lẳng lặng một mình trấn giữ cửa ải, ngăn cản đám luyện khí sĩ hoàng thất vây công. Còn lão già thấp bé mặt mày hiền lành này lại là kẻ ra tay tàn độc nhất, khi đại chiến hạ màn, xung quanh nơi lão đứng chỉ còn lại những mảnh xác thịt vụn nát.

Chu Liễm không nhìn Trần Bình An, bởi lẽ trong nhiều trường hợp, nhìn thấu lòng người vốn chẳng cần dùng đến đôi mắt.

Lão càng thêm hiếu kỳ về quận Long Tuyền kia, cùng với động tiên Ly Châu vốn là tiền thân của nó. Rốt cuộc đó là nơi ngọa hổ tàng long đến nhường nào, mới có thể tôi luyện nên một Trần Bình An trẻ tuổi như vậy, tựa như đã nếm trải hết thảy phong ba bão táp của nhân gian, khiến tâm cảnh vững vàng, khó lòng lay chuyển.

Tuổi đời còn trẻ mà tâm thái đã tựa như cổ tỉnh vô ba, khó tránh khỏi vẻ già dặn quá mức, tâm cơ thâm trầm. Nhưng Chu Liễm lại không nghĩ như vậy. Sự nhiệt tình giúp đỡ mọi người của Trần Bình An mang lại cho lão một cảm giác mơ hồ. Giống như sâu trong lòng giếng cổ tâm cảnh kia, thấp thoáng bóng dáng một con ác giao hung tợn đang bơi lội dưới đáy nước, ẩn hiện khôn lường.

Có điều, con ác giao thầm kín này dường như đã bị những thứ như lễ nghi quy củ, ranh giới thiện ác trói chặt dưới đáy giếng, dù muốn nổi lên mặt nước hay ló đầu nhìn trộm cũng chẳng thể được.

Chu Liễm không dám suy đoán quá nhiều, lão chỉ chắc chắn một điều: sâu trong nội tâm Trần Bình An nhất định đang đè nén một chấp niệm cực kỳ sâu nặng, vĩnh viễn không thể buông bỏ.

Lần này vị Thành hoàng gia phải đằng vân giá vũ suốt mấy trăm dặm chạy tới khuyên can, hao tâm tổn trí, tâm tình tồi tệ vô cùng. Hắn chỉ hận không thể san bằng miếu Hà bá cùng từ đường Sơn thần kia cho bõ ghét.

Chuyện thần linh sông núi tự tiện vượt quá quyền hạn là vấn đề cực kỳ nhạy cảm. Một khi bị kẻ nào đó tố cáo lên nha môn Lễ bộ tại kinh thành, cho dù Thành hoàng gia hắn có ngồi yên trong phủ cũng khó tránh khỏi họa từ trên trời rơi xuống, kết cục chắc chắn chẳng tốt đẹp hơn hai kẻ ngu xuẩn không biết nặng nhẹ kia là bao.

Thành hoàng gia xua đuổi hai gã thuộc hạ đang run rẩy sợ hãi kia đi, chợt phát hiện nhóm người Diêu gia đang đứng bên bờ sông. Hắn vận dụng vọng khí thuật, chỉ liếc nhìn một cái đã thấy khí tượng của nhóm người này vô cùng phi phàm, chói lòa cả mắt. Trong lòng kinh hãi, hắn lập tức muốn hạ xuống mặt đất để thăm dò nông sâu.

Thế nhưng, những người kia lại ngạo mạn đến mức coi trời bằng vung, hai vị tu sĩ trực tiếp tuốt đao quát lớn:

- Cấm bước tới gần, nếu không sẽ bị coi là mưu đồ hành thích!

Vị Thành hoàng gia nọ tức giận khôn nguôi, suýt chút nữa đã gọi hai gã thần linh thuộc hạ trở lại. May nhờ hưởng dụng hương khói mấy trăm năm, dù sao cũng có chút công phu hàm dưỡng, cuối cùng hắn chỉ ghi nhớ kỹ những gương mặt xa lạ kia, sắc mặt âm trầm quay về châu thành.

Trên đường trở lại đội ngũ, Diêu Trấn đi tới bên cạnh Diêu Cận Chi, khẽ giọng hỏi:

- Vì sao lại xử sự thiếu chút tình người như vậy?

Diêu Cận Chi bất đắc dĩ đáp:

- Trên đường đi khó tránh khỏi những cuộc xã giao quan trường, yến tiệc linh đình. Nhưng nếu dính dáng đến Thành hoàng và thần linh, mọi chuyện sẽ trở nên khó lòng phân định. Ông nội hẳn không muốn chưa kịp tiến vào thành Thận Cảnh đã bị quan gián nghị lục khoa mật tấu tố cáo chứ?

Nàng nói tiếp:

- Cho dù Hoàng đế bệ hạ không để tâm, nhưng từ chốn quan trường đến dân chúng kinh thành, chắc chắn sẽ râm ran những lời đồn thổi chẳng lành. Trên đời này có ai không thích xem náo nhiệt? Chẳng phải chính chúng ta cũng vừa đứng xem đó sao? Có mấy ai thực sự quan tâm đến phải trái đúng sai của vị sơn thần hà bá kia?

Diêu Trấn được chỉ điểm rõ ràng, gật đầu tán đồng. Trong lòng lão tướng quân không khỏi tiếc nuối, nếu Diêu Cận Chi là phận nam nhi, ở lại trấn giữ biên quan, như vậy lão mới có thể hoàn toàn yên tâm được.

Bùi Tiền nhặt được một đống cá sông, kết quả Trần Bình An lại không muốn nhận. Cô bé đành phải xách đuôi cá, gắng sức ném từng con trở lại lòng sông, mệt đến mức mồ hôi đầm đìa.

Đến thành Kỵ Hạc, nơi vừa là châu thành vừa là quận thành, kinh sư Đại Tuyền đã gần ngay trước mắt.

Quận thành này có lịch sử lâu đời. Tương truyền từng có một vị cao nhân đắc đạo cưỡi hạc phi thăng tại đây, khiến danh tiếng vang xa khắp ngả. Trong quận có một ngọn núi nhỏ, phong cảnh vốn bình thường, nhưng vì là nơi tiên nhân cưỡi hạc về trời, cho nên hàng năm đều có vô số văn nhân mặc khách đến đây du ngoạn. Nhà cửa quanh núi đều do giới quyền quý kinh sư mua đất xây dựng, đúng nghĩa tấc đất tấc vàng.

Vị Thành hoàng gia lúc trước hẳn là ngự trị trong tòa thành này. Diêu Trấn cũng không đến mức phải kiêng dè một vị Thành hoàng cấp châu.

Phẩm cấp và bổng lộc của lão không thua kém gì Lễ bộ Thượng thư, người nắm quyền thăng giáng của thần linh một nước. Huống hồ Đại Tuyền vốn sùng võ, chức Binh bộ Thượng thư không phải là hư hàm, nếu không cũng chẳng trở thành vị trí hàng đầu để các võ tướng dùng làm nơi dưỡng lão.

Họ vẫn lưu lại dịch quán, đây vốn là quy củ của triều đình. Dịch quán trong thành quy mô cực lớn, diện tích chẳng hề thua kém phủ đệ vương hầu. Để nghênh đón Diêu Trấn, vị Thứ sử và Quận thủ kia đã hạ lệnh gần như dọn trống cả dịch quán.

Sự đã đến nước này, Diêu Trấn chỉ có thể nhận lấy ý tốt, giả vờ như không biết gì. Nước quá trong ắt không có cá, chốn quan trường vốn dĩ là như vậy.

Thông thường mà nói, triều đình có thể dung nạp trung thần gian thần, thanh quan hôn quan, cùng hạng người gió chiều nào che chiều nấy, nhưng duy chỉ không thể chứa chấp một vị "thánh nhân đạo đức". Bởi lẽ làm vậy chẳng khác nào đặt một tấm kính chiếu yêu giữa triều đình, khiến mọi thói hư tật xấu của đám đống lương quốc gia đều bị phơi bày trần trụi.

Trong lòng lão tướng quân cảm khái muôn phần. Những đạo lý đối nhân xử thế này, lại là do cháu gái Diêu Cận Chi nói với ông khi nàng mới chỉ mười bốn mười lăm tuổi.

Đôi khi Diêu Trấn lại tự giễu, chẳng lẽ vốn liếng duyệt lịch cả đời của mình đều chỉ như cỏ khô cho ngựa ăn hay sao?

Cũng may trong đội ngũ còn có một Trần Bình An. Trên đường bắc thượng lần này, Diêu Trấn rất thích tìm người trẻ tuổi này để đàm đạo.

Trước đó Trần Bình An theo ước định đã so tài cùng Diêu Tiên Chi, chỉ điểm đôi chút. Diêu Tiên Chi coi lời của cậu như khuôn vàng thước ngọc, lúc trở về tìm ông nội tâm sự lại tỏ vẻ ảo não, nói rằng đời này mình luyện võ đều phí công vô ích rồi.

Diêu Trấn lại hỏi hắn: "Cái gọi là 'đời này' của ngươi, mới chỉ có mười mấy năm thôi sao?"

Diêu Tiên Chi cứng họng không trả lời được, khiến Diêu Cận Chi đang pha trà ở bên cạnh không khỏi mỉm cười. Mặc dù Diêu Cận Chi đánh cờ không thắng nổi Lư Bạch Tượng, nhưng xét về nghệ thuật đấu trà, nàng có thể coi là một bậc danh thủ.

Nơi biên quan gió cát mịt mù, mấy đời nam nữ nhà họ Diêu đều anh tư bạt tụy, oai phong lẫm liệt, sao lại có thể dưỡng ra một cô gái ôn uyển thông tuệ đến nhường này?

Diêu Tiên Chi bỗng thốt ra một câu: "Chị Cận Chi, em không thích tên Thiệu Uyên Nhiên kia, em thấy Trần Bình An thuận mắt hơn nhiều."

Diêu Cận Chi mỉm cười đáp: "Em thích hay không thì liên quan gì đến ta?"

Diêu Tiên Chi định nói tiếp, nhưng bị Diêu Cận Chi liếc mắt một cái, liền sợ tới mức nuốt ngược những lời định nói vào trong bụng.

Diêu Trấn cười ha hả, hoàn toàn không có chút phong thái nghiêm nghị của một vị gia chủ.

Diêu Cận Chi thản nhiên nói: "Ông nội, nếu không có gì bất ngờ, triều đình sẽ lập tức phái mật sứ tới thành Kỵ Hạc. Đến lúc đó ông hãy cười cũng chưa muộn."

Diêu Trấn không sao cười nổi nữa. So đấu tâm cơ với những kẻ đã ngâm mình trong thùng nhuộm quan trường mấy mươi năm, tu luyện thành cáo già nơi công môn, quả thực khiến lão cảm thấy vô cùng nhức đầu.

Trong phòng, Trần Bình An đang luyện tập sáu bước đi thế, tay làm động tác nắm hờ chuôi kiếm, nhắm mắt quán tưởng phong thái xuất kiếm của từng vị kiếm tu.

Trên bàn đặt một ống trúc xanh bình thường, vốn là vật cậu tiện tay chặt từ rừng trúc trên một ngọn núi xanh dọc đường đi.

Trần Bình An định điêu khắc một ống đựng bút, làm lễ vật từ biệt tặng cho Diêu lão tướng quân.

Bùi Tiền chạy đến nói muốn ra ngoài dạo chơi. Trần Bình An bảo cô bé đi hỏi Lư Bạch Tượng xem hắn có bằng lòng dẫn đi không, nếu không thì cứ ngoan ngoãn ở lại trong phòng đọc sách.

Trước đó, Trần Bình An đã đưa cho cô bé quyển điển tịch Nho gia thứ hai. Có hôm cô bé hớn hở chạy tới phòng cậu, khoe rằng mình đã học thuộc lòng rồi. Trần Bình An cầm sách kiểm tra, quả thực không sai một chữ, hơn ngàn lời kinh văn đều đọc thuộc làu làu.

Sau đó, cậu lại kéo tai cô bé, bắt về phòng đóng cửa tự kiểm điểm, chỉ để lại một câu:

- Đã dặn ngươi đọc sách phải dụng tâm, ngươi lại xem như gió thoảng bên tai sao?

Bùi Tiền hậm hực trở về phòng, đứng trên ghế dựa, cúi đầu nhìn quyển sách nát trên bàn, nhíu mày xoa cằm. Dụng tâm? Nghĩa là thế nào? Chẳng lẽ mình còn chưa đủ dụng tâm sao? Để học thuộc cả quyển sách này, cô đã phải tốn đến tận một nén nhang đấy thôi.

Cô ngồi xổm xuống, nhìn chằm chằm vào tên vị thánh hiền đã viết ra quyển điển tịch vô dụng này, thầm ghi hận trong lòng. Đợi sau này luyện thành kiếm thuật và quyền pháp, nhất định phải đánh cho tên khốn này kêu cha gọi mẹ.

Cô lại đứng lên, suy nghĩ vẩn vơ hồi lâu vẫn không tìm được đáp án, bèn nhảy xuống ghế, cầm lấy cây gậy leo núi đã bầu bạn bấy lâu, múa may một hồi côn pháp.

Sau khi thỏa thuê nghịch ngợm, cô vứt gậy sang một bên, cảm thấy mình đã tiến gần thêm một bước tới ngôi vị đệ nhất cao thủ thiên hạ. Lúc này tâm trạng mới khá hơn một chút, cô liền leo lên giường, ngủ khò khò.

Hôm nay nhận được sự cho phép của Trần Bình An, Bùi Tiền hớn hở đi tìm Lư Bạch Tượng – người mà cô lén đặt biệt danh là “Tiểu Bạch”. Nhưng Lư Bạch Tượng đang mải đánh cờ với Tùy Hữu Biên, bảo cô chờ thêm nửa canh giờ nữa.

Bùi Tiền ngoảnh đầu nhìn sang Ngụy Tiện đang tĩnh tọa bên cạnh. Ngụy Tiện vốn chẳng hiểu gì về cờ vây, chỉ ngồi đó đợi phân định thắng bại mà thôi. Cô bé vừa định lên tiếng, Ngụy Tiện vốn đang nhìn chằm chằm vào bàn cờ đột nhiên thốt ra một chữ “Đi”, sau đó đứng dậy. Bùi Tiền lập tức hiểu ý, hai người cùng nhau rời khỏi dịch quán xuống phố dạo chơi.

Bùi Tiền cười hì hì hỏi:

- Lão Ngụy, trên người ngươi có mang theo tiền không?

Trong số bốn người, Bùi Tiền ít sợ Ngụy Tiện nhất, lúc nào cũng gọi hắn là lão Ngụy. Ngụy Tiện cũng chưa từng nổi giận, thực chất là hắn chẳng hề để tâm đến mấy chuyện vặt vãnh này.

Ngụy Tiện im lặng không đáp.

Bùi Tiền càu nhàu nói:

- Vậy thì đi dạo làm gì, nhìn thấy đồ chơi tinh xảo hay thức ăn ngon, chúng ta cũng chẳng có tiền mà mua.

Ngụy Tiện đột nhiên lên tiếng:

- Ta có một ít bạc.

Bùi Tiền nhướng mày, gặng hỏi:

- Ở đâu ra thế? Ăn trộm hay đi cướp đấy? Ngươi chia cho ta một nửa, ta sẽ giữ kín miệng, không mách với Trần Bình An.

Ngụy Tiện bình thản đáp:

- Dạy cho thiếu niên thọt ở nhà trọ một bộ quyền pháp, kiếm được mấy đồng bạc vụn. Gần đây truyền thụ quyền ý cho Diêu Tiên Chi, lại được mười mấy lượng bạc nữa.

Bùi Tiền đầy vẻ ngưỡng mộ, tấm tắc khen:

- Lão Ngụy ngươi cũng khá đấy, đi đến đâu cũng có thể kiếm ra tiền, điểm này ta phục ngươi rồi.

Hai tay Bùi Tiền chắp sau lưng, ưỡn ngực bước đi, rất nhanh sau đó lại chậc lưỡi nói:

- Có điều lão Ngụy ngươi lại đi lừa tiền của thiếu niên thọt kia, thật chẳng phúc hậu chút nào. Lừa hắn còn không bằng lừa vị Cửu Nương kia, trong túi cô ta mới thật sự có tiền. Đáng tiếc, diện mạo của lão Ngụy ngươi không được người ta ưa thích, kém xa phụ thân ta trẻ tuổi anh tuấn. Lão Ngụy này, sinh ra với tướng mạo khó coi như vậy, ngươi có oán trách cha mẹ mình không?

Đường đường là một vị hoàng đế khai quốc, vậy mà lại bị một tiểu nha đầu nói năng như vậy. Cũng may Ngụy Tiện vẫn có thể giữ vẻ thờ ơ, gã đàn ông vóc dáng thấp bé nghiêm túc đáp:

- Năm xưa những họa sĩ cung đình vẽ tranh cho ta, ai nấy đều khen ta tướng mạo anh tuấn, uy nghi lẫm liệt. Ta cảm thấy bọn họ đều nói lời thật lòng.

Bùi Tiền kinh ngạc thốt lên:

- Lão Ngụy, là đầu óc ngươi hồ đồ, hay là mắt của bọn họ đều mọc dưới mông cả rồi?

Ngụy Tiện không nói gì nữa, tiếp tục tu khẩu thiền.

Thành Kỵ Hạc không có lệnh giới nghiêm, trong thành phú hào nhiều vô số kể, kẻ nào kẻ nấy đều vung tiền như rác.

Sau khi rời khỏi dịch quán, bước ra đường lớn, một lớn một nhỏ chen giữa dòng người rộn ràng tấp nập. Trong túi Bùi Tiền chẳng có lấy một đồng xu, nhưng khí thế lại hệt như một đại tiểu thư nhà giàu quyền quý.

Điều này cũng chẳng có gì lạ. Tại trấn Hồ Nhi, cô bé từng phỉnh gạt đám bạn đồng lứa, khiến chúng tin rằng mình thực sự là một vị công chúa điện hạ lưu lạc chốn nhân gian. Thậm chí sau cùng, nàng còn lừa được cả đám bổ khoái tinh đời, khiến bọn họ phải cung kính lễ độ hộ tống mình trở về quán trọ.

Bùi Tiền chợt hỏi:

- Lão Ngụy, ta luôn cảm thấy cô ả suốt ngày che mặt không dám gặp ai kia, ánh mắt nhìn cha ta có gì đó không đúng lắm.

Ngụy Tiện hờ hững đáp:

- Cũng là đế vương tâm thuật cả thôi.

Bùi Tiền không hiểu, gặng hỏi:

- Ngươi nói gì vậy?

Ngụy Tiện im lặng không đáp.

Bùi Tiền cũng chẳng buồn truy cứu đến cùng. Nàng nuốt nước miếng ực một cái, cơn thèm ăn trỗi dậy, liền cười híp mắt nói:

- Lão Ngụy, có thể mua cho ta một xâu kẹo đường không?

Ngụy Tiện lắc đầu từ chối.

Bùi Tiền tức tối:

- Lão Ngụy, sao ngươi lại bủn xỉn như vậy?

Ngụy Tiện lần đầu tiên nở nụ cười, thong thả nói:

- Ta không có bản lĩnh lẫn sự nhẫn nại như Trần Bình An, không nuôi nổi ngươi đâu.

Bùi Tiền ngơ ngác, bày ra vẻ mặt đáng thương:

- Vậy ta mượn tiền ngươi mua kẹo đường có được không?

Ngụy Tiện gật đầu:

- Tính lãi ba thành.

Bùi Tiền mặt ủ mày chau:

- Tuy ta biết lãi ba thành là thế nào, nhưng thôi bỏ đi. Không ăn thì không ăn, cũng chẳng chết đói được.

Nói thì nói vậy, nhưng đôi chân nàng lại nhanh như gió chạy đến trước một sạp kẹo đường, hai chân như bám rễ xuống đất, nhất quyết không chịu rời đi.

Ngụy Tiện cũng chẳng thể bỏ mặc Bùi Tiền một mình, nếu không, Trần Bình An nhất định sẽ dùng quyền cước mà "tiếp đãi" hắn.

Bên cạnh sạp hàng đặt một chiếc tủ gỗ dài có giá treo, phía dưới là lồng tròn đựng lò than hồng. Lão thợ thổi kẹo động tác vô cùng thuần thục, dùng muỗng lớn rưới nước đường mạch nha vàng óng sánh quyện xuống, sau đó xoay chuyển đôi tay, trong nháy mắt đã biến hóa ra đủ loại đường nhân sinh động. Xung quanh là đám trẻ nhỏ tụ tập, đứa nào đứa nấy mở to mắt, nước miếng chực trào. Những đứa trẻ có người lớn đi cùng đều được mua cho những chiếc kẹo đường với đủ hình thù khác nhau.

Ngụy Tiện bỏ tiền mua hai xâu, Bùi Tiền trơ mắt nhìn hắn mỗi tay cầm một xâu.

Ngụy Tiện đưa cho nàng một xâu, hào phóng nói:

- Ban cho ngươi đấy.

Giọng điệu này quả thực chẳng khác nào bậc đế vương ban thưởng cho thần tử.

Bùi Tiền mặt mày hớn hở:

- Được rồi, sau khi trở về, mỗi ngày ta sẽ nói tốt cho ngươi vài câu trước mặt cha ta. Bây giờ ta cũng coi như nửa người đọc sách rồi, lời nói ra như đinh đóng cột, tuyệt đối không nuốt lời.

Một lớn một nhỏ vừa đi vừa gặm kẹo đường, chìm nghỉm giữa dòng người tấp nập, chẳng có gì nổi bật.

Nơi dịch quán tĩnh mịch, ván cờ đã phân định thắng thua, chung quy Tùy Hữu Biên vẫn là người bại trận.

Về đạo cờ vây, Tùy Hữu Biên vốn chẳng mặn mà thắng thua. Ngược lại, Lư Bạch Tượng lại một mình trong phòng tĩnh tâm diễn lại tàn cuộc. Y chăm chú nhìn vào bàn cờ, hai ngón tay kẹp lấy một quân cờ đặt xuống, khẽ khàng lướt đi trên mặt gỗ.

Tại một gian phòng cách đó không xa, Trần Bình An đang tỉ mẩn điêu khắc ống trúc nọ. Cậu muốn thử chạm trổ một bài văn chương của thánh hiền lên chiếc ống đựng bút này.

May thay những năm qua cậu vẫn luôn kiên trì khắc chữ lên thẻ trúc, sớm đã quen tay hay việc, lại thêm nền tảng từ những năm tháng thiếu thời nung gốm nặn phôi. Nét chữ khắc ra tuy chưa thể gọi là ý vị bay bổng thoát tục, nhưng mỗi câu mỗi chữ đều ẩn chứa vẻ đoan chính, ngay ngắn. Dẫu không có khí thế hào hùng, "nhập mộc tam phân" đầy áp chế, song vẫn mang theo một chút phong vị thanh tao, bền bỉ như dòng nước suối chảy dài.

Thế gian có lời rằng, tu sĩ Hạ Ngũ Cảnh tu trường thọ, tu sĩ Trung Ngũ Cảnh cầu trường sinh bất hủ, còn tu sĩ Thượng Ngũ Cảnh lại độc hành trên vạn nẻo cao xa, gần như chẳng lúc nào được ngơi nghỉ. Trần Bình An cảm thấy đạo lý này chẳng có gì sai trái, bận rộn không ngừng cũng là để không phụ thời gian. Có điều, thi thoảng vẫn nên dừng chân, hoặc tiến bước chậm lại, để tĩnh tâm thưởng ngoạn phong cảnh trên con đường tu hành đằng đẵng.

Khắc những lời hay ý đẹp lên thẻ trúc là như vậy, mà tự tay chế tác một chiếc ống đựng bút chẳng mấy đáng giá, gửi gắm tâm ý vào đó cũng lại như thế.

Một đêm trôi qua trong tĩnh lặng.

Trần Bình An thức khuya chạm trổ được hơn nửa ống bút, chỉ chợp mắt hai canh giờ đã rời giường, tiếp tục luyện quyền, đồng thời nắm hờ tay không diễn luyện kiếm chiêu.

Tiết trời sắp sang đông, chẳng biết có đủ vận may để khi đến bến thuyền ngoài thành Thận Cảnh, sẽ được diện kiến trận tuyết đầu mùa năm nay hay không? Nghe đồn thành Thận Cảnh trong tuyết lớn đẹp tựa tiên cảnh nhân gian.

Trong lúc dùng bữa sáng, Trần Bình An hay tin đoàn người Diêu gia định nghỉ ngơi tại thành Kỵ Hạc hai ngày, cậu cũng không lấy làm phiền lòng.

Diêu Tiên Chi hớt hải chạy đến tìm Trần Bình An, nói rằng mọi người đã hẹn nhau cùng đi vãn cảnh ngọn núi nhỏ nơi tiên nhân cưỡi hạc phi thăng năm xưa. Hơn nữa, phủ Thứ sử đã sớm thông báo cho dịch quán, bất kể Diêu lão tướng quân có hạ cố ghé thăm hay không, hôm nay khu vực quanh núi đều sẽ được giới nghiêm, không cho phép thường dân lai vãng.

Đến lúc tụ họp, Trần Bình An mới phát hiện số người tham gia không ít, bao gồm ba người trẻ tuổi của Diêu gia, đạo sĩ áo xanh Thiệu Uyên Nhiên, và cả Tùy Hữu Biên vốn rất hiếm khi lộ diện.

Ngụy Tiện và Lư Bạch Tượng chọn ở lại dịch quán. Lão tướng quân vốn dĩ trên đường đi luôn thích thú du sơn ngoạn thủy, lần này lại không lộ diện, quả thực có chút khác thường.

Hôm nay ra ngoài, Trần Bình An đã thay bộ pháp bào Kim Lễ vốn được thăng cấp kia, khoác trên mình một thân bạch y. Nếu quan sát kỹ sẽ phát hiện trên búi tóc của hắn còn cài một cây trâm bạch ngọc.

Vương triều Đại Ly tọa lạc tại cực bắc Bảo Bình châu, nam nhi tráng đinh vốn có vóc dáng cao lớn, thường cao hơn người ở thành Lão Long phương nam ít nhất nửa cái đầu. Hơn nữa, tại các vùng thôn dã của Bảo Bình châu, nam tử mười lăm mười sáu tuổi đã thành gia lập thất là chuyện thường tình. Chỉ có những hào môn thế tộc hay thư hương môn đệ mới coi trọng lễ nhược quán khi tròn hai mươi tuổi.

Từ sau khi Trần Bình An luyện quyền, vóc dáng vẫn không ngừng nảy nở, bất tri bất giác đã mang dáng dấp của một thanh niên khôi ngô đoan chính.

Bùi Tiền gầy gò đen nhẻm lẳng lặng bám theo sau lưng Trần Bình An. Chỉ cần đứng cạnh hắn, cô bé sẽ không còn sợ hãi tên Chu Liễm kia nữa.

Đoàn người đi tới ngọn núi nhỏ giữa lòng thành phố. Khi đi ngang qua Võ miếu, họ bắt gặp một người lạ, chứng kiến một chuyện kỳ.

Đó là một thiếu niên cao lớn, toàn thân đẫm máu đang liều mạng xông vào Võ miếu, nhưng chẳng mấy chốc đã bị ném ra khỏi đại môn.

Văn Võ nhị miếu của châu thành vốn chẳng phải nơi kẻ nhàn tạp có thể tùy tiện làm càn.

Thiếu niên kia sau khi bị ném ra ngoài, liền hướng về phía Võ miếu mà khấu đầu vang dội.

Miếu chúc là một lão giả gầy gò, đứng trên đỉnh bậc thềm, vẻ mặt nghiêm nghị quát bảo thiếu niên:

- Thần binh trong tay Thánh nhân Võ miếu, há có thể để hạng phàm phu tục tử chạm vào? Ta nể tình ngươi tuổi trẻ vô tri nên không truy cứu chuyện xông vào miếu điện. Mau rời đi, đừng có si tâm vọng tưởng nữa.

Thì ra thiếu niên này xông vào Võ miếu là muốn mượn đao của Thánh nhân.

Thiếu niên dập đầu đến mức trán sưng vù, rướm máu. Hắn ngẩng đầu lên, gương mặt đầm đìa nước mắt tuyệt vọng, khàn giọng nói:

- Sư phụ tôi một lòng muốn trừ yêu diệt hại cho bách tính bản quận, nay lại bị vây khốn trong sơn lâm chướng khí, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. Sau khi sư phụ liều mình đưa tôi thoát khỏi chướng khí, có dặn rằng chỉ khi mượn được thanh trường đao của Võ Thánh gia gia mới có cơ hội chém chết đại yêu hung ác đang gieo rắc tai ương kia. Lão gia coi miếu, tôi cầu xin ngài, đây là việc tích đức hành thiện, Võ Thánh gia gia linh thiêng chắc chắn sẽ không trách tội...

Thủ miếu nhân cười nhạt nói:

- Võ Thánh lão gia có nổi giận hay không, há đến lượt hạng tiểu dân như ngươi định đoạt? Chiếu theo luật pháp Đại Tuyền, tự tiện thỉnh dùng binh khí của Thánh nhân Võ miếu, ngươi có biết là trọng tội gì không? Huyện lệnh sở tại sẽ bị bãi chức ngay tức khắc, Thái thú bị giáng một cấp, Thứ sử cũng phải chịu phạt bổng lộc ba năm.

Thiếu niên lòng đau như cắt, tuyệt vọng lẩm bẩm:

- Địa phương có yêu ma tác oai tác quái hại người, quan lại không màng tới thì thôi, chẳng lẽ đến hôm nay, ngay cả Võ Thánh lão gia cũng khoanh tay đứng nhìn sao?

Thủ miếu nhân bề ngoài trông như nộ khí đằng đằng, ánh mắt lạnh lùng, nhưng thực chất trong lòng lại khẽ thở dài: "Thiếu niên à, chuyện trên thế gian này đâu có đơn giản như ngươi tưởng."

Chu Liễm khẽ nheo mắt, liếc nhìn bóng lưng Trần Bình An đang đứng phía trước. Trần Bình An vừa định cất bước, Thiệu Uyên Nhiên đã điềm nhiên tiến ra, cậu liền lặng lẽ thu chân lại.

Thiệu Uyên Nhiên đi tới bên cạnh thiếu niên nọ, ngồi xuống ôn tồn hỏi:

- Sư phụ ngươi bị vây hãm ở đâu? Ngươi có biết tu vi đại khái của con yêu ma kia thế nào không?

Thiếu niên vội vàng tường thuật rõ ràng đầu đuôi sự việc.

Thiệu Uyên Nhiên đưa tay đỡ thiếu niên dậy, vỗ nhẹ lên vai hắn, mỉm cười nói:

- Để ta đi cứu sư phụ ngươi, giúp ông ấy trừ yêu diệt ma.

Sau đó hắn quay đầu nhìn về phía Diêu Cận Chi đang đội đấu lạp che mặt, áy náy nói:

- Diêu cô nương, e rằng ta không thể cùng mọi người lên núi được rồi.

Diêu Cận Chi khẽ gật đầu, lớp màn che khiến người ta không thấy rõ thần sắc của nàng.

Thiệu Uyên Nhiên xách lấy thiếu niên rồi lướt đi, thân hình nhẹ nhàng nhảy vọt lên những mái nhà phía xa, chỉ vài lần lên xuống đã không còn thấy tăm hơi.

Diêu Tiên Chi thầm sinh lòng bội phục, ấn tượng đối với vị cung phụng trẻ tuổi của vương triều Đại Tuyền này lại tốt thêm mấy phần.

Trước đó Bùi Tiền vẫn luôn nheo mắt quan sát gã họ Thiệu kia, lúc này cô bé lại nghiêng đầu, ngẩn ngơ không nói lời nào.

Sau khúc chiết nhỏ này, chuyến hành trình lên núi sau đó của mọi người cũng chẳng còn mấy hứng thú. Huống hồ ngọn núi này vốn dĩ nhỏ bé, cảnh sắc cũng chẳng có gì đặc sắc.

Chỉ có Tùy Hữu Biên đeo kiếm đứng trên đỉnh núi, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời cao rộng, ánh mắt nóng rực.

Trần Bình An ngoại trừ một chút tiếc nuối vì phong cảnh nơi đây quá đỗi bình thường, sắc mặt vẫn thản nhiên, không để lộ quá nhiều cảm xúc.

Chuyện Sơn thần và Thủy thần Đại Tuyền tranh đấu, hay thiếu niên thành Kỵ Hạc mượn đao Võ miếu, chung quy cũng chỉ là chút sóng gợn lăn tăn không đáng kể.

Việc Sơn chủ thư viện Đại Phục hội ngộ cùng Tông chủ núi Thái Bình, tề tâm hiệp lực ngăn chặn đại yêu cảnh giới thứ mười hai đào tẩu ra biển, đó mới thực sự là đại sự. Mà việc Quân tử Chung Khôi tìm đến sơn môn núi Thái Bình, cũng không thể coi là chuyện nhỏ.

Bên cạnh đó, thư viện Đại Phục còn phái thêm hai vị Quân tử, ba vị Hiền nhân cùng hơn hai mươi đệ tử đồng hành. Về phần thư viện Văn Uyên nằm lệch về phía nam, số lượng nho sĩ tìm đến núi Thái Bình lại đông đảo hơn hẳn, lên tới năm mươi người. Chỉ hiềm nỗi dẫn đầu đoàn người ấy chỉ là một vị Quân tử già nua, thực lực của đám đệ tử đi theo cũng kém xa so với người của thư viện Đại Phục.

Đây chính là tình cảnh trớ trêu của thư viện Văn Uyên, danh tiếng mờ nhạt, lại là nơi hiếm hoi nhân tài nhất trong bốn tòa thư viện lớn tại Đồng Diệp châu.

Trên núi thường râm ran lời đồn đại rằng thư viện Văn Uyên sắp bị tước đi danh hiệu một trong bảy mươi hai tòa thư viện chính thống. Âu cũng bởi gần trăm năm qua, nơi đây chẳng hề xuất hiện thêm một vị Quân tử mới nào, ngay cả ba vị chính phó Sơn chủ cũng không có trước tác thánh hiền nào đáng để ca tụng. Thế nhân lặn lội tìm đến thư viện Văn Uyên, phần lớn chẳng phải vì ngưỡng mộ phong thái thánh hiền, mà chỉ vì lầu Văn Uyên vốn là nơi tàng trữ sách vở đồ sộ mà thôi.

Chung Khôi vừa đặt chân đến sơn môn núi Thái Bình liền tuân thủ nghiêm ngặt lời dặn của tiên sinh, hắn răn đe toàn bộ đệ tử thư viện Đại Phục phải phục tùng mọi sự sắp xếp của đạo sĩ núi Thái Bình, tuyệt đối không được tự ý hành động.

Dẫu cho tứ phía tai họa không ngừng, nhưng các đạo sĩ núi Thái Bình bất luận bối phận cao thấp đều chẳng hề nao núng, mọi việc vẫn diễn ra vô cùng quy củ. Từng tốp luyện khí sĩ theo kế hoạch định sẵn mà xuống núi vây quét yêu ma, tuy có tổn thất thương vong, nhưng những người hy sinh phần lớn lại là đạo sĩ của núi Thái Bình. Nghĩa cử ấy khiến luyện khí sĩ của hai đại thư viện cùng đông đảo tiên gia động phủ đều sinh lòng kính trọng, từ đó việc hợp tác lại càng thêm phần chân thành.

Trong những lúc ngơi tay, tu sĩ khắp nơi vốn đang cùng chung mối thù thường tụ lại đàm đạo. Cái tên được nhắc đến nhiều nhất chính là vị thiếu niên tạp dịch ngoại môn của Phù Kê tông, kẻ vừa một bước lên mây, danh tiếng vang dội. Nghe đâu hắn đã được Tông chủ Phù Kê tông thu nhận làm đệ tử chân truyền, lại còn ban cho một thanh bán tiên binh vốn được đạo lữ của Tông chủ khổ công luyện hóa suốt trăm năm.

Nếu không nhờ thiếu niên này phá vỡ âm mưu của đại yêu cảnh giới thứ mười hai kia, buộc đối phương phải phát động sớm hơn dự tính, thì e rằng đám yêu ma bị trấn áp dưới giếng giam của núi Thái Bình chẳng phải chỉ thoát ra hơn nửa, mà là toàn bộ đều đã tái xuất thế gian. Đặc biệt là mấy con yêu ma ở tầng đáy sâu nhất, đạo hạnh cực kỳ thâm hậu, kẻ có tu vi thấp nhất cũng đã đạt tới Nguyên Anh cảnh.

Suốt mười ngày qua, lũ yêu ma ẩn náu khắp nơi không ngừng lộ diện, ngang nhiên tác oai tác quái, gây họa một phương. Đáng nói là, đám nghiệt súc này phần lớn đều ở cảnh giới Long Môn và Kim Đan, khiến việc vây quét trở nên vô cùng nan giải.

Núi Thái Bình chẳng dám khinh suất, bất kể là đạo sĩ bản môn hay các bậc đồng đạo đến tương trợ, gần như đều dốc toàn lực xuất kích. Duy chỉ có quân tử Chung Khôi là chọn ở lại trấn thủ núi Thái Bình.

Chẳng ai có lời dị nghị, bởi trong chuyến hành trình trảm yêu trừ ma khắp bốn phương lần này, Chung Khôi chính là người lập công đầu, giết địch nhiều nhất. Hơn nữa, hắn không chỉ đơn thuần bảo vệ môn sinh của thư viện mình, mà trong những lần xuống núi chinh chiến, hắn đều chủ động gia nhập đội ngũ luyện khí sĩ của các tông môn khác để trợ chiến.

Chính vì thế, vị địa tiên Nguyên Anh của núi Thái Bình – người đang cầm trịch đại cục – trước lúc đích thân xuống núi đã mỉm cười nói với Chung Khôi:

- Sơn môn lúc này đành phải trông cậy vào Chung tiên sinh vậy.

Vị địa tiên nọ còn bí mật tiết lộ với Chung Khôi rằng, Tổ sư gia của núi Thái Bình sẽ sớm trở về, thậm chí có khả năng còn đưa theo cả vị nữ đạo sĩ Hoàng Đình từ Ngẫu Hoa phúc địa kia.

Chung Khôi nghe vậy liền ha hả cười lớn, bảo rằng về sớm được thì tốt, như vậy hắn sẽ chẳng cần ngày ngày phải dán mắt canh chừng cái giếng giam kia nữa.

Kể từ đó, mỗi ngày Chung Khôi đều đơn độc tuần tra nơi tầng sâu nhất của giếng giam.

Đêm nay, khi vừa bước ra khỏi giếng giam, hắn chợt bắt gặp một vị đại yêu vốn đã nghe danh từ lâu nhưng chưa một lần diện kiến.

Thực tế, chẳng riêng gì kẻ ngoại tộc như Chung Khôi, ngay cả những đạo sĩ có bối phận cực cao tại núi Thái Bình cũng hiếm khi được nhìn thấy vị đại yêu đang tu hành tại đây.

Đó là một con vượn trắng phụ kiếm với tu vi thâm hậu, khoác trên mình lớp áo đen, vóc dáng cao lớn ngang ngửa một nam tử trưởng thành. Tuy nhiên, nó không hóa thân thành nhân hình mà vẫn giữ nguyên bản tướng bạch viên.

Lão vượn này tuy là đại yêu lừng lẫy khắp Đồng Diệp châu, nhưng đồng thời cũng là Cung phụng của núi Thái Bình. Chưa bàn đến năm tháng tu hành đằng đẵng trước kia, chỉ riêng thời gian lão tọa trấn giữ gìn sơn môn núi Thái Bình cũng đã ngót nghét ba ngàn năm.

Tuổi thọ của lão vượn này thậm chí còn lớn hơn cả vị Tổ sư gia núi Thái Bình hiện đang vân du bên ngoài. Việc xây dựng giếng giam vốn là thần thông quảng đại của Khai sơn Thủy tổ núi Thái Bình, nhưng trong suốt dòng thời gian dằng dặc sau đó, trọng trách canh giữ giếng giam đều được giao phó cho con bạch viên thích đeo kiếm, kẻ vốn rất ít khi xuất thế này.

Trong dòng chảy lịch sử, đã có mấy bận đại yêu ma đầu đào thoát, chẳng một ngoại lệ, thảy đều do con vượn trắng này tự tay trấn áp, thủ đoạn lại vô cùng gọn ghẽ, dứt khoát. Thậm chí, ngay cả phần lớn địa tiên của núi Thái Bình cũng chưa từng nghe danh về những chuyện này.

Giữa lúc đại loạn bùng phát, lão vượn vốn đang ở cảnh giới Ngọc Phác bế quan tu luyện, mưu cầu phá vỡ gông cùm để tiến vào cảnh giới Tiên Nhân. Tính ra lão mới chỉ bế quan được dăm ba năm đã vội vã xuất quan, chẳng lẽ là cảm ứng được biến động bên ngoài, buộc lòng phải hiện thân sớm hơn dự định?

Gió thu hiu hắt, núi rừng tĩnh mịch. Lão vượn sừng sững đứng đó, tựa như một ngọn núi cao vạn trượng, uy nghiêm bất động.

Chung Khôi vẫn khoác trên mình bộ thanh sam như thuở còn ở khách điếm nơi biên thùy Đại Tuyền, y cất tiếng hỏi: "Là ngươi, đúng không?"

Bạch vượn phụ kiếm trầm mặc không đáp, chỉ dùng luồng kiếm khí cuồn cuộn như trường hồng dâng cao sau lưng để thay cho lời đáp trả.